Ý kiến thăm dò

Truy cập

Hôm nay:
166
Hôm qua:
269
Tuần này:
769
Tháng này:
1981
Tất cả:
98663

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ KHÓA XXXVI Tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ XXXVII nhiệm kỳ 2015 - 2020

Ngày 26/05/2015 14:59:41

Phần thứ nhất KIỂM ĐIỂM 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ XÃ LẦN THỨ XXXVI NHIỆM KỲ 2010 - 2015

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXXVI, trong nhiệm kỳ qua xã nhà luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền và các ban ngành đoàn thể của huyện; thành quả của nhiệm kỳ trước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghị quyết của Đại hội nhiệm kỳ 2010 - 2015; sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ; nhân dân có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng; tiếp tục công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Bên cạnh những mặt thuận lợi, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến phức tạp, tình hình an ninh trật tự có lúc diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, với truyền thống cách mạng, Đảng bộ đã vượt lên những khó khăn thách thức, tập trung lãnh đạo kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển, quốc phòng- an ninh được giữ vững, đời sống nhân dân được cải thiện, công tác xây dựng Đảng, chính quyền MTTQ các đoàn thể chính trị-xã hội được củng cố.

A- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I- PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG - AN NINH

1. Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, nhiều chỉ tiêu đạt so với nghị quyết huyện ra; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản, dịch vụ - thương mại tăng, nông nghiệp giảm

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt: 15%, tăng 2,2% so với cùng kỳ đạt chỉ tiêu Đại hội. Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp, thuỷ sản 39,2%, giảm 13,1% so với cùng kỳ, giảm 0,8% so với chỉ tiêu Đại hội; công nghiệp - xây dựng 29,4%, tăng 8% so với cùng kỳ, tăng 4,4% so với chỉ tiêu Đại hội; dịch vụ tuy không đạt mục tiêu Đại hội nhưng vẫn chiếm trọng cao 31,4%, tăng 5,1% so với cùng kỳ.

Tổng thu nhập là 391,101 tỷ đồng, tăng 134 tỷ đồng so với cùng kỳ. Thu nhập bình quân đầu người đạt 21,6 triệu đồng, tăng 10,6 triệu đồng so với cùng kỳ và vượt 7,6 triệu đồng so với mục tiêu Đại hội, trong đó: giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản 173,8 tỷ đồng; công nghiệp, xây dựng 101,8 tỷ đồng; Dịch vụ, thương mại 115,4 tỷ đồng.

1.1. Lĩnh vực nông nghiệp phát triển theo hướng chất lượng, hiệu quả:

Về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng đạt 267,3 ha, đạt 99,6% kế hoạch, năng suất bình quân đạt 11,83 tấn/ha/năm, giảm 0,67 tấn/ha so với cùng kỳ. Sản lượng đạt 3.112 tấn giảm so với đầu nhiệm kỳ 92,9 tấn/ha, một là do diện tích canh tác giảm 3ha sang sử dụng khác, hai là số diện tích lúa thơm, lúa chất lượng cao chiếm 30-45%, năng suất tuy giảm nhưng giá trị kinh tế đạt cao so với nhiệm kỳ trước. Bình quân lương thực đầu người đạt 585 kg/người/năm. Mặc dù không đạt kế hoạch nhưng cũng tạo tiền đề cho sản xuất vụ đông những năm tới.

Về chăn nuôi: từng bước ổn định; đàn lợn gần 600 con, đàn trâu, bò trên 124 con; đàn gia cầm hiện có hơn 19 ngàn con các loại. Công tác tiêm phòng được duy trì thường xuyên. Kết quả tiêm phòng gia súc, gia cầm hàng năm đạt 97- 98%. Hiện tại địa phương duy trì 2 trang trại và 6 gia trại hoạt động hiệu quả.

1.2. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ được ổn định và có bước phát triển: Toàn xã có 239 cơ sở, ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát thuộc các lĩnh vực như: cơ khí, gò hàn, máy say xát, nghề mộc, may mặc, chế biến nông sản, thực phẩm; doanh thu hàng năm đạt 30 tỷ đồng, tăng 17% với đầu nhiệm kỳ và vượt mục tiêu đại hội.

1.3. Các ngành dịch vụ được mở rộng và phát triển, góp phần tăng thu nhập: Đáp ứng ngày một tốt hơn về dịch vụ vật liệu xây dựng, cung ứng vật tư nông nghiệp, các điểm sửa chữa, buôn bán đồ điện dân dụng cùng với kinh doanh nhu yếu phẩm đò dùng sinh hoạt phục vụ Nhân dân trong xã và vùng lân cận. Cung cầu hàng hóa trên địa bàn xã được đảm bảo. Mức bản lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ hàng năm ước đạt 29,8 tỷ đồng. Các phương tiện sản xuất được nhân dân đầu tư phát triển như xe tô tải 5 cái, máy cày, lồng 35 cái, máy vò lúa 15 cái, máy gặt đập liên hoàn 2 cái.

Hoạt động tín dụng, tính đến tháng 5/2015 với tổng số vốn dư nợ tại các Ngân hàng là hơn: 32,108 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ là 20,328 tỷ đồng.

Hoạt động của hợp tác xã DVNN, sau kiện toàn Ban quản trị đã đi vào hoạt động ổn định. Các khâu dịch vụ, công tác bảo nông, cung ứng giống, đảm bảo nước tưới, tập huấn các tiến bộ khoa học kỷ thuật, đã tạo điều kiện cho Nhân dân sản xuất.

1.4- Thu, chi ngân sách có nhiều chuyển biến: tổng thu ngân sách trong 5 năm là: 22,452 tỷ đồng, đạt 100% so với dự toán. Các chỉ tiêu giao thu cơ bản hoàn thành so với dự toán huyện giao, nhiều chỉ tiêu vượt như: Lệ phí trước bạ, thuế nhà đất, thuế tháng của các hộ sản xuất kinh doanh. Tổng chi ngân sách trong 5 năm là: 22,452 tỷ đồng, đạt 100% so với dự toán, các khoản chi cơ bản được thực hiện chi đúng, chi đủ, tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu cho việc chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản trên các lĩnh vực của địa phương.

2. Công tác thu hút đầu tư, huy động vốn cho đầu tư phát triển bước đầu được cải thiện

Hoạt động xây dựng phát triển, đã tạo ra khối lượng các công trình như: Xây dựng nhà Hiệu bộ Trường Tiểu học, đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, nhà văn hóa Làng; hệ thống đường điện, trạm điện, khu công sở, sân thể thao thôn, nhà ở khu dân cư, vốn đầu tư cho các công trình hơn này 100 tỷ đồng.

Thực hiện các chính sách, tạo điều kiện, phát huy dân chủ và truyền thống của địa phương trong nhiệm kỳ tổng các nguồn vốn đã thực hiện các công trình đạt hơn 41,4 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách cấp trên hơn 2,2 tỷ đồng, ngân sách xã hơn: 2,6 tỷ đồng, vốn lồng ghép các công trình dự án: 1,2 tỷ đồng; Vốn doanh nghiệp: 138,8 triệu đồng, vốn đầu tư của Nhân dân hơn 35,3 tỷ đồng hàng nghìn ngày công. Đặc biệt là nguồn vốn huy động từ con em thành đạt đầu tư vào một số hạng mục như cơ sở vật chất trường học, nhà văn hoá Làng, đường bê tông nông thôn, nội đồng giúp bộ mặt nông thôn có nhiều diện mạo mới.

3. Công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên môi trường được tăng cường

Công tác quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 và quy hoạch xây dựng nông thôn mới được thực hiện có tính khả thi phù hợp. Đo đạc tổng thể đất đai, xác định nguồn gốc đất để lập hồ sơ bản đồ địa chính. Điều tra thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tổng diện tích là 253.480m2. Dự án giải phóng mặt bằng để làm đường vành đai và đường 517 qua Đông Thịnh được thực hiện công khai dân chủ về quy hoạch, mức đền bù nên được các hộ dân trong dự án đồng thuận. Công tác vệ sinh môi trường, xã đã đầu tư thêm 7 xe thu gom rác thải và hợp đồng với HTX môi trường Tân Sơn về thu gom rác thải đã góp phần tạo cho đường làng, ngõ xóm sạch sẽ. Mỗi năm ước tính thu gom hơn 300 tấn rác thải vận chuyển ra ngoài địa phương để xử lý.

4. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được chăm lo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên

4.1. Giáo dục và đào tạo đã tập trung vào đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng: Cơ sở vật chất của 3 Trường được đảm bảo cho việc dạy và học. Trường Tiểu học được công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ I năm 2013. Trường Mầm non giữ vững trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn. Chất lượng giáo dục đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.

Trường THCS, học sinh khá 55 - 58%, học sinh giỏi hàng năm đạt trên 11 - 13%, tỷ lệ đậu vào Trường THPT hàng năm đạt 92 - 94%. Tỷ lệ phổ cập giáo dục THCS hàng năm đạt 93 - 94%. Năm 2014, trường THCS đạt trường tiên tiên cấp Tỉnh. Trường Tiểu học huy động trẻ vào lớp 1 đúng độ tuổi đạt 100%, học sinh giỏi 50 - 52%, học sinh khá 38 - 39%, học sinh lên lớp hàng năm đạt 97 - 98%. . Trường Mầm non huy động trẻ vào học hàng năm đạt 95 - 96%, học sinh khá giỏi 96 - 98%. Trẻ được ăn ở bán trú đạt 100%, được cân đo, khám sức khoẻ định kỳ.

Công tác khuyến học được địa phương duy trì và phát triển. Phong trào khuyến học được phát triển mạnh trong các gia đình, dòng họ và Làng văn hoá. Trong nhiệm kỳ đã tặng thưởng cho 123 học sinh đậu vào các trường: THPT Lam Sơn, Đại học, Cao đẳng hơn 130 triệu đồng.

Hoạt động của trung tâm HTCĐ trong nhiệm kỳ luôn phối kết hợp tốt với các đoàn thể, các ngành tổ chức tập huấn chuyển giao kiến thức KHKT, văn hóa-xã hội, tư vấn sức khỏe cộng đồng. Tạo điều kiện cho mọi tầng lớp Nhân dân được tiếp cận gần hơn với các lĩnh vực hoạt động trong đời sống văn hóa và tinh thần trong xã hội.

4.2. Văn hóa - thông tin - thể dục thể thao: có nhiều chuyển biến tích cực, thường xuyên nâng cao chất lượng tin bài, kịp thời tuyên truyền các chủ trương, của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước và các quy định của địa phương đến với cán bộ, đảng

viên và Nhân dân.

Phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao được khơi dậy và duy trì hoạt động. Sân thể thao của xã, của các làng văn hoá được xây dựng, tạo đà phát triển phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao rộng rãi trong nhân dân. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, gia đình văn hoá đạt từ 69% đầu nhiệm kỳ lên 81,2%; tiếp tục thực hiện toàn dân không sử dụng thuốc lá trong việc cưới, việc tang. Các hoạt động khuyến học, văn hóa - văn nghệ, thể dục thể được các làng văn hoá quan tâm. Các làng duy trì câu lạc bộ dưỡng sinh, câu lạc bộ văn nghệ và thể dục thể thao. Làng Đoàn Kết đã khôi phục trò Tiên cuội và múa Đèn.

4.3. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm đúng mức: việc khám chữa bệnh và phòng bệnh ban đầu, công tác phòng chống dịch bệnh cho nhân dân được duy trì, các chương trình quốc gia về y tế, như chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình VSMT, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ được tổ chức tốt từ xã xuống thôn; duy trì tốt 10 chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 6,6‰ đầu nhiệm kỳ giảm còn 5,3‰. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 15,9% đầu nhiệm kỳ, giảm còn 12,8%, chỉ tiêu đại hội là 10%. Công tác chỉ đạo xây dựng nhà vệ sinh, sử dụng nước hợp vệ sinh đều vượt so với chỉ tiêu đại hội 15%.

4.4. Công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội được quan tâm: trong 5 năm qua kết hợp với quỹ ủng hộ người nghèo của cấp trên và xã đã hỗ trợ trên 126 triệu đồng để làm mới 18 ngôi nhà và sửa chữa 4 ngôi nhà cho các đối tượng chính sách và hộ nghèo. Xác định và cấp giấy chứng nhận khuyết tật theo NĐ 28 cho 127 đối tượng. Toàn xã có hơn 400 đối tượng đang hưởng các chế độ chính sách. Trong đó, người hưởng chính sách người có công là: 202 đối tượng, người hưởng chính sách bảo trợ xã hội 198 đối tượng. Trong 5 năm, đã xuất khẩu được 153 lao động đi làm việc ở nước ngoài, nguồn thu nhập của các lao động ước trong 5 năm là 82, 620 tỷ đồng.

Trong nhiệm kỳ Đảng bộ đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả. Đầu nhiệm kỳ tỷ lệ hộ nghèo là 20,55%, cận nghèo 14,98%, đến nay tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,92%, cận nghèo còn 3,13%, vượt mục tiêu đại hội. Số hộ khá giàu được nâng lên, nhiều hộ gia đình đã trang bị đồ dùng, các thiết bị gia dụng đắt tiền; điều kiện ăn ở, học hành và nhu cầu hưởng thụ văn hoá được nâng lên.

5. Công tác QP - AN được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

5.1. Công tác Quốc phòng: luôn được coi trọng, chất lượng huấn luyện chính trị, quân sự chuyển biến rõ rệt, kết quả huấn luyện hàng năm đều đạt khá giỏi từ 75-78 %. Năm 2012 tham gia diễn tập chiến đấu trị an cụm 4 đạt loại khá. Nhiệm vụ tuyển quân hàng năm đạt chỉ tiêu Huyện giao. Từ năm 2010 địa phương đã tặng sổ tiết kiệm trị giá 500.000đ cho mỗi thanh niên hoàn thành nghĩa vụ. Trong 5 năm có 33 thanh niên nhập ngũ, không có trường hợp bỏ ngũ, không có bù - đổi. Chính sách hậu phương quân đội được thực hiện tốt.

5.2. An ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội: tiếp tục được giữ vững, trật tự ATXH chuyển biến tích cực, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc được duy trì. Thực hiện đề án 375 và chỉ thị số 10 của UBND Tỉnh, BCĐ xã đã chỉ đạo các thôn bầu ra 10 Tổ ANTT với 20 thành viên và 47 tổ ANXH với 94 thành viên, các tổ ANTT, ANXH hoạt động hiệu quả trong khu dân cư. Trong 5 năm công an xã đã giải quyết và phối hợp với cơ quan công an cấp trên tiến hành giải quyết xong 75 vụ việc.

6. Thực hiện chương trình về xây dựng nông thôn mới

Trong nhiệm kỳ tập trung hoàn thành sớm quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới; kịp thời kiện toàn Ban chỉ đạo, Ban quản lý, Ban phát triển thôn; bộ mặt nông thôn từng bước đổi mới, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Tập trung phát triển giao thông nông thôn, giao thông nội đồng; kết quả đã xây dựng đường giao thông nông thôn Đà Ninh và Đại Từ: 730m, giao thông nội đồng (thôn 3, 4, 5, 7): 1.390m. Trong một tháng toàn xã đã thực hiện hết 292,8 tấn xi nhà nước hỗ trợ làm được 6.911m đường giao thông nông thôn với số tiền Nhân dân đầu tư gần 900 triệu đồng. Xây dựng nhà văn hoá Làng Đại Từ hơn 700 triệu đồng, nhà văn hoá làng Đoàn kết gần 700 triệu đồng. Xây dựng thêm 2 trạm điện nâng tổng số trạm điện là 5 trạm/1.200 hộ dân. Làng Đoàn Kết đã vận động Nhân dân giải phóng hành lang đường liên huyện với chiều dài gần 1km với diện tích 1500m2. Xây mới nhà hiệu bộ Trường Tiểu học 1,5 tỷ đồng góp phần Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1.

Trong xây dựng nông thôn mới đã tập trung khơi dậy tính tự giác, tích cực, gương mẫu của đảng viên và nhân dân trong việc huy động vốn, góp công, góp của, tự giải phóng hành lang đường để hoàn thành các hạng mục trong xây dựng Nông thôn mới. Đến nay có thôn 10 được công nhận về đích nông thôn mới 14/14 tiêu chí, toàn xã đạt 9/19 tiêu chí. Tổng vốn huy động trong công tác xây dựng nông thôn mới của nhiệm kỳ là 65,8 tỷ đồng.

II- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được tăng cường, có một số chuyển biến tích cực

1.1. Công tác tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; công tác giáo dục chính trị tư tưởng được quan tâm kịp thời đúng mức:

Thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Triển khai, học tập, quán triệt kịp thời các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, gắn với xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết phù hợp với tình hình của địa phương, tạo sự đồng thuận trong nhận thức và hành động. Thường xuyên nắm chắc những diễn biến về tư tưởng, tâm trạng xã hội để kịp thời có những biện pháp định hướng tư tưởng có hiệu quả trong các nhiệm vụ chính trị.

1.2. Công tác tổ chức, cán bộ được tập trung chỉ đạo và đạt nhiều kết quả: Đã tập chung nhiều biện pháp chỉ đạo, khắc phục khó khăn, hạn chế, không ngừng phát triển đi lên. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/HU của BTV Huyện uỷ "về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ". Đánh giá xếp loại hàng năm được thực hiện đúng nguyên tắc, qua đó cho thấy: Chi bộ đạt TSVM chiếm 45% tăng so với đầu nhiệm kỳ 5%. Chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 55% tăng so với đầu nhiệm kỳ 10%. Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ bình quân 5 năm chiếm 75%, đảng viên xuất sắc hàng năm đạt 6-8%. Công tác thi đua khen thưởng được Đảng ủy quan tâm, trong nhiệm kỳ đã trao huy hiệu đảng cho 47 đồng chí. Thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách cán bộ và công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã góp phần củng cố tổ chức Đảng vững mạnh.

Trong nhiệm kỳ đã bồi dưỡng 24 quần chúng ưu tú đi học đối tượng Đảng, đã kết nạp 36 đ/c, tăng 7 đồng chí so với cùng kỳ, vượt chỉ tiêu Đại hội 6 đồng chí. Nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ 303 đồng chí.

Tập trung lãnh đạo Đại hội nhiệm kỳ 2011-2016 của Hội Phụ nữ, nhiệm kỳ 2012-2017 của Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông Dân và Công đoàn xã, Đại hội MTTQ nhiệm kỳ 2013-2018; Đại hội chi bộ (nhiệm kỳ 2012-2015, 2015-2017) thành công tốt đẹp.

Trong nhiệm kỳ đã cử 18 đ/c đi đào tạo, trong đó: học Đại học 8 đồng chí, Trung cấp Công an 2 đồng chí, Trung cấp Quân sự 1 đồng chí, Trung cấp Lý luận chính trị 7 đồng chí. Góp phần cho đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ: THPT là 20/20 đồng chí, Đại học 7 đồng chí, Cao đẳng 1 đồng chí, Trung cấp quản lý nhà nước 12 đồng chí, Trung cấp lý luận chính trị 11 đồng chí, cơ bản đội ngũ cán bộ, công chức đạt chuẩn góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo.

1.3. Công tác kiểm tra, giám sát: luôn được chú trọng. Từ đầu nhiệm kỳ đã xây dựng chương trình công tác kiểm tra, giám sát. Phân công các đồng chí Đảng uỷ viên, Ủy viên UBKT phụ trách hàng tháng dự họp với chi bộ, thông qua đó nhằm thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở chi bộ.

Trong nhiệm kỳ Đảng ủy đã kiểm tra 3 cuộc về chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở 4 chi bộ, 3 cuộc giám sát cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ bộ thuộc diện quản lý về việc thực hiện chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và đạo đức, lối sống. UBKT Đảng ủy đã kiểm tra 5 cuộc về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng ở 4 chi bộ. Giám sát 3 cuộc về việc lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát ở chi bộ. UBKT đã tham mưu giúp Đảng ủy ban hàng quy trình tiến hành kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của chi ủy, chi bộ.

Công tác kiểm tra, giám sát đã giúp tổ chức đảng và đảng viên kịp thời sửa chữa những sai sót nâng cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm, có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa sai phạm, giữ vững kỷ cương, tăng cường sức mạnh, sức chiến đấu của Đảng. Trong nhiệm kỳ không có đảng viên, tổ chức đảng vi phạm phải xử lý kỷ luật.

1.4. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí: Được quan tâm đúng mức, đã tập trung chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí thường xuyên; Đảng ủy, UBND đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nhiều giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí được triển khai thực hiện đồng bộ có kết quả, cán bộ lãnh đạo quản lý thực hiện công tác kê khai tài sản minh bạch, công tác tuyên truyền giáo dục được tăng cường, kiểm tra giám sát chặt chẽ, từ đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

1.5. Phương thức lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tiếp tục được đổi mới: Ban chấp hành Đảng bộ đã ban hành quy chế làm việc toàn khóa; điều hành hoạt động nghiêm túc theo quy chế, phát huy dân chủ, đoàn kết thống nhất, thực hiện tốt chế độ tư phê bình và phê bình, phát huy vai trò tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tính tiền phong gương mẫu và nêu gương của người đứng đầu. Ban thường vụ duy trì chế độ giao ban với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, MTTQ và các đoàn thể; chất lượng nội dung hội nghị Ban chấp hành từng bước được đổi mới, hàng tháng đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ bằng văn bản; tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt của các chi bộ, thực hiện việc sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, duy trì công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh.

Chỉ đạo thường xuyên MTTQ và các đoàn thể tập trung tuyên truyền đoàn viên, hội viên và Nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; công tác phối hợp giữa UBND, MTTQ và các đoàn thể luôn duy trì, phối hợp chặt chẽ và mang lại hiệu quả thiết thực.

1.6. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và chỉ thị 03- CT/TW của Bộ chính trị về Tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh” đạt được kết quả đáng mừng: Thực hiện NQTW 4 (khoá XI). Trên cơ sở 3 vấn đề yêu cầu của nghị quyết, Đảng bộ đã nghiêm túc quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện. Qua kiểm điểm Đảng ủy đã xác định có 3 nội dung yếu kém, khuyết điểm cần xác minh làm rõ và 7 nội dung cần khắc phục trong năm 2013, 8 nội dung cần làm trong các năm tiếp theo. Đảng ủy đã gợi ý kiểm điểm đối với 4 tập thể và 7 cá nhân về tồn tại kéo dài. Từ kết quả sau kiểm điểm các tập thể cá nhân đã có sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên; đã tập trung làm tốt công tác đánh giá, bố trí, sắp xếp và thực hiện quy hoạch cán bộ; tập thể và cá nhân cán bộ đã xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm từng đồng chí phụ trách. Sau kiểm điểm, tình đồng chí, đồng nghiệp gắn bó chặt chẽ hơn, hiệu quả công tác được nâng cao; đã hạn chế những biểu hiện khuyết điểm mới.

Tiếp tục thực hiện các hoạt động "Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 03. Đa số cán bộ, đảng viên lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành pháp luật. Luôn tự rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đa số các đồng chí cán bộ, đảng viên là tấm gương trong gia đình, chăm lo XD hạnh phúc gia đình và phát triển kinh tế, XD gia đình văn hoá, làng văn hoá, giữ vững tình làng nghĩa xóm, đoàn kết trong khu dân cư được Nhân dân tin yêu.

2. Công tác quản lý nhà nước, hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền được nâng lên rõ rệt

2.1. Hoạt động của HĐND ngày càng đổi mới theo hướng tích cực, hiệu quả: HĐND xã nhiệm kỳ 2011-2016 được cử tri trong xã bầu 25 đại biểu. Tại kỳ họp thứ 1 thứ 2 và thứ 8 đã tiến hành bầu và bầu bổ sung các chức danh do HĐND bầu. Thường trực HĐND thường xuyên phối hợp với MTTQ, UBND để xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử tri phục vụ các kỳ họp, qua tiếp xúc cử tri Thường trực HĐND cùng các tổ đại biểu nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của cử tri để phản ánh đến kỳ họp. Trước mỗi kỳ họp Thường trực HĐND tiến hành thẩm tra các báo cáo và các tờ trình của UBND đảm bảo đúng quy định kết hợp với việc phát huy chức năng giám sát tại kỳ họp của các đại biểu nên chất lượng các kỳ họp được nâng lên rõ rệt. Trong nhiệm kỳ đã tổ chức 11 kỳ họp và ban hành 45 nghị quyết về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương. Thường trực HĐND tăng cường hoạt động giám sát thường xuyên, tiến hành 9 cuộc giám sát chuyên đề về các lĩnh vực: quản lý nhà nước về đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, về xây dựng XD cơ bản, thực hiện các khoản thu xã hội hóa giáo dục của 3 trường, về thực hiện cải cách thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thông và việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Qua giám sát nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn tại, phát huy những mặt tích cực trong quản lý và điều hành các nhiệm vụ của địa phương.

2.2. Hoạt động của UBND đã tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành: UBND đã tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đã đạt được nhiều kết quả tích cực; các chủ trương, nghị quyết của Đảng được cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo. Công tác cải cách hành chính, tác phong lề lối làm việc được đổi mới. Tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trong tâm, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, cơ cấu thời vụ, cơ cấu giống, phòng chống bão lụtchống hạn. Quá trình triển khai có các biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện. Tích cực chỉ đạo các thôn tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước và quan tâm công tác sản xuất, phổ biến các tiến bộ KHKT đến với nhân dân. Phối hợp và tổ chức chỉ đạo bầu cử trưởng thôn nhiệm kỳ 2012 - 2015 và 2015 - 2017 thành công tốt đẹp.

3. Công tác Dân vận phát huy hiệu quả; hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội ngày càng phát triển

3.1. Công tác dân vận: Được quan tâm và hoạt động có nhiều chuyển biến tích cực, đã xây dựng quy chế công tác Dân vận. Thường xuyên tuyên truyền và tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng kịp thời. Tăng cường xây dựng các điển hình “dân vận khéo”. Tổ chức thực hiện đề án Đề án về "Tăng cường công tác Dân vận trong xây dựng nông thôn mới" trên địa bàn. Đẩy mạnh công tác dân vận của Chính quyền, phát huy dân chủ tạo sự đồng thuận trong nhân dân, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

3.2. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân: Đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đổi mới nội dung phương thức hoạt động, các hình thức thu hút tập hợp đoàn viên hội viên ngày càng đa dạng, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng phản ảnh với cấp ủy, chính quyền. Vận động đoàn viên, hội viên tích cực tham gia thực hiện đường lối chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; đẩy mạnh các phong trào thi đua trong các tổ chức đoàn thể được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng như: phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo trong đoàn viên công đoàn. Phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, mô hình tổ nhóm tiết kiệm, mô hình 5 không, 3 sạch. Hội Nông dân với phong trào “Sản xuất kinh doanh giỏi”, Hội Cựu Chiến binh với phong trào “Phối hợp phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội”; Đoàn xã với phong trào “Thanh niên tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tỉ lệ tập hợp thu hút hội viên, đoàn viên được nâng lên. Hội PN là 87%, Đoàn thanh niên 68%, Hội Nông dân 58%, Hội CCB 98,8%. Hoạt động của mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân liên tục đạt tiên tiến trở lên. Tổ chức thực hiện QĐ 217, 218-QĐ/TWvề việc giám sát và phản biện xã hội...”; về tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền”.

Các tổ chức xã hội hoạt động đồng bộ theo yêu cầu của tổ chức, hàng năm được phân bổ kinh phí hoạt động; có nhiều nội dung hoạt động phong phú, thiết thực đã thu hút hội viên tham gia, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, động viên kịp thời hội viên và nhân dân tích cực hăng say lao động sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên và nhân dân. Tích cực vận động hội viên thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Đạt được những kết quả trên là do các nguyên nhân: Trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, Đảng uỷ, Chính quyền đã xác định gắn kết chặt chẽ và đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. Rèn luyện tác phong lề lối làm việc có kế hoạch, giải pháp và phân công cụ thể, sơ kết, tổng kết, khen thưởng, phê bình đúng mức. Đảng uỷ luôn đoàn kết, thống nhất, giữ vững nguyên tắc tập chung dân chủ, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái, mất dân chủ. Nhiệm kỳ qua địa phương đã đạt được nhiều kết quả đáng mừng. Đó là được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện. Sự tập chung lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng của Đảng ủy, quản lý điều hành tốt của Chính quyền, tích cực tuyên truyền vận động của MTTQ, các đoàn thể, sự nổ lực phấn đấu của các chi bộ, sự cố gắng vươn lên của cán bộ, Nhân dân đã tạo điều kiện về tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, văn hóa - xã hội phát triển, an ninh - quốc phòng được đảm bảo.

B- NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM, NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, khuyết điểm

1- Về lĩnh vực phát triển kinh tế, các giải pháp và các chương trình hành động chưa có tính đột phá, ứng dụng KHKT, khoa học công nghệ vào sản xuất chậm. Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp dịch vụ còn mang tính tự phát, du nhập ngành nghề mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng vật nuôi gặp nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế từ trang trại, gia trại chưa cao. Công tác thực hiện xây dựng NTM chậm.

2- Công tác văn hoá chưa có chiều sâu, phòng trào hoạt động bề nổi phát triển chậm, chất lượng xây dựng làng văn hoá chưa đạt kế hoạch đề ra. Hoạt động của các làng văn hóa chưa được chú trọng.

3- Tình hình TNXH vẫn còn phức tạp, nhất là cờ bạc, lô đề chưa có biện pháp ngăn chặn triệt để. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm hiệu quả thấp.

4- Hoạt động của chính quyền về quản lý đất đai, TNXH xử lý vi phạm chưa kịp thời, thiếu kiên quyết; số lượng tiếp xúc cử tri chưa cao, hoạt động của một số đại biểu HĐND có thời điểm chưa rõ nét. Kỳ họp thứ nhất của HĐND bầu chức danh Phó chủ tịch HĐND chưa đúng yêu cầu đề ra.

5- Công tác xây dựng Đảng chưa chú trọng đổi mới nội dung sinh hoạt, công tác quản lý đảng viên đi làm ăn xa chưa tốt, việc phân công nhiệm vụ cho đảng viên chưa cụ thể. Đánh giá, phân loại tổ chức và đảng viên còn nể nang. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát có mặt chưa thường xuyên. Việc khắc phục hạn chế của tổ chức và cá nhân theo tinh thần NQTW 4 chưa kịp thời.

6 - Hoạt động của MTTQ và đoàn thể chưa đều, nội dung, hình thức sinh hoạt còn nghèo, duy trì chế độ sinh hoạt chưa thường xuyên, tính hấp dẫn chưa cao, tỷ lệ

hội viên, đoàn viên tham gia sinh hoạt thấp.

7- Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa sâu sát, thiếu biện pháp phong phú. Việc đưa nội dung giáo dục đạo đức, lối sống trở thành nội dung sinh hoạt hàng tháng, kiểm điểm hàng năm, kết quả việc làm theo còn hạn chế.

2. Nguyên nhân

- Năng lực lãnh đạo của Đảng uỷ, điều hành của Chính quyền có mặt còn hạn chế. Tư duy trong lãnh đạo nhất là tư duy kinh tế chậm đổi mới. Công tác chỉ đạo, điều hành có thời điểm chưa sâu sát, thiếu năng động.

- Nguồn thu ngân sách hạn hẹp, dẫn đến phong trào XD nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, tạo việc làm cho nông dân chậm phát triển.

- Trong Đảng bộ vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên tư duy chậm đổi mới, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, đấu tranh phê bình, tự phê bình còn yếu.

- Năng lực tham mưu của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế, thiếu tinh thần trách nhiệm, hiệu quả công việc thấp, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương.

C- BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Một là: Thường xuyên duy trì và củng cố, xây dựng được sự nhất trí cao trong Đảng bộ, tạo lòng tin của Nhân dân đối với Đảng. Có chủ trương, biện pháp sát đúng, có bước đi thích hợp trong chỉ đạo, điều hành, tập chung chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, những khâu then chốt, phân công trách nhiệm cụ thể giải quyết dứt điểm những vấn đề đã đặt ra.

Hai là: Làm tốt công tác tuyên truyền tạo ra sự thống nhất trong nhận thức và hành động, đồng thời tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Thực hiện nghiêm pháp lệnh dân chủ trong nhân dân.

Ba là: Quan tâm và bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện nhằm năng cao trình độ năng lực. Bảo đảm cho đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực để lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Thường xuyên nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng. Kiểm điểm nghiêm túc những cán bộ, đảng viên không đủ năng lực và phẩm chất theo yêu cầu nhiệm vụ.

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ KHÓA XXXVI Tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ XXXVII nhiệm kỳ 2015 - 2020

Đăng lúc: 26/05/2015 14:59:41 (GMT+7)

Phần thứ nhất KIỂM ĐIỂM 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ XÃ LẦN THỨ XXXVI NHIỆM KỲ 2010 - 2015

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXXVI, trong nhiệm kỳ qua xã nhà luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền và các ban ngành đoàn thể của huyện; thành quả của nhiệm kỳ trước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghị quyết của Đại hội nhiệm kỳ 2010 - 2015; sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ; nhân dân có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng; tiếp tục công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Bên cạnh những mặt thuận lợi, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến phức tạp, tình hình an ninh trật tự có lúc diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, với truyền thống cách mạng, Đảng bộ đã vượt lên những khó khăn thách thức, tập trung lãnh đạo kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển, quốc phòng- an ninh được giữ vững, đời sống nhân dân được cải thiện, công tác xây dựng Đảng, chính quyền MTTQ các đoàn thể chính trị-xã hội được củng cố.

A- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I- PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG - AN NINH

1. Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, nhiều chỉ tiêu đạt so với nghị quyết huyện ra; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản, dịch vụ - thương mại tăng, nông nghiệp giảm

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt: 15%, tăng 2,2% so với cùng kỳ đạt chỉ tiêu Đại hội. Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp, thuỷ sản 39,2%, giảm 13,1% so với cùng kỳ, giảm 0,8% so với chỉ tiêu Đại hội; công nghiệp - xây dựng 29,4%, tăng 8% so với cùng kỳ, tăng 4,4% so với chỉ tiêu Đại hội; dịch vụ tuy không đạt mục tiêu Đại hội nhưng vẫn chiếm trọng cao 31,4%, tăng 5,1% so với cùng kỳ.

Tổng thu nhập là 391,101 tỷ đồng, tăng 134 tỷ đồng so với cùng kỳ. Thu nhập bình quân đầu người đạt 21,6 triệu đồng, tăng 10,6 triệu đồng so với cùng kỳ và vượt 7,6 triệu đồng so với mục tiêu Đại hội, trong đó: giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản 173,8 tỷ đồng; công nghiệp, xây dựng 101,8 tỷ đồng; Dịch vụ, thương mại 115,4 tỷ đồng.

1.1. Lĩnh vực nông nghiệp phát triển theo hướng chất lượng, hiệu quả:

Về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng đạt 267,3 ha, đạt 99,6% kế hoạch, năng suất bình quân đạt 11,83 tấn/ha/năm, giảm 0,67 tấn/ha so với cùng kỳ. Sản lượng đạt 3.112 tấn giảm so với đầu nhiệm kỳ 92,9 tấn/ha, một là do diện tích canh tác giảm 3ha sang sử dụng khác, hai là số diện tích lúa thơm, lúa chất lượng cao chiếm 30-45%, năng suất tuy giảm nhưng giá trị kinh tế đạt cao so với nhiệm kỳ trước. Bình quân lương thực đầu người đạt 585 kg/người/năm. Mặc dù không đạt kế hoạch nhưng cũng tạo tiền đề cho sản xuất vụ đông những năm tới.

Về chăn nuôi: từng bước ổn định; đàn lợn gần 600 con, đàn trâu, bò trên 124 con; đàn gia cầm hiện có hơn 19 ngàn con các loại. Công tác tiêm phòng được duy trì thường xuyên. Kết quả tiêm phòng gia súc, gia cầm hàng năm đạt 97- 98%. Hiện tại địa phương duy trì 2 trang trại và 6 gia trại hoạt động hiệu quả.

1.2. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ được ổn định và có bước phát triển: Toàn xã có 239 cơ sở, ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát thuộc các lĩnh vực như: cơ khí, gò hàn, máy say xát, nghề mộc, may mặc, chế biến nông sản, thực phẩm; doanh thu hàng năm đạt 30 tỷ đồng, tăng 17% với đầu nhiệm kỳ và vượt mục tiêu đại hội.

1.3. Các ngành dịch vụ được mở rộng và phát triển, góp phần tăng thu nhập: Đáp ứng ngày một tốt hơn về dịch vụ vật liệu xây dựng, cung ứng vật tư nông nghiệp, các điểm sửa chữa, buôn bán đồ điện dân dụng cùng với kinh doanh nhu yếu phẩm đò dùng sinh hoạt phục vụ Nhân dân trong xã và vùng lân cận. Cung cầu hàng hóa trên địa bàn xã được đảm bảo. Mức bản lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ hàng năm ước đạt 29,8 tỷ đồng. Các phương tiện sản xuất được nhân dân đầu tư phát triển như xe tô tải 5 cái, máy cày, lồng 35 cái, máy vò lúa 15 cái, máy gặt đập liên hoàn 2 cái.

Hoạt động tín dụng, tính đến tháng 5/2015 với tổng số vốn dư nợ tại các Ngân hàng là hơn: 32,108 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ là 20,328 tỷ đồng.

Hoạt động của hợp tác xã DVNN, sau kiện toàn Ban quản trị đã đi vào hoạt động ổn định. Các khâu dịch vụ, công tác bảo nông, cung ứng giống, đảm bảo nước tưới, tập huấn các tiến bộ khoa học kỷ thuật, đã tạo điều kiện cho Nhân dân sản xuất.

1.4- Thu, chi ngân sách có nhiều chuyển biến: tổng thu ngân sách trong 5 năm là: 22,452 tỷ đồng, đạt 100% so với dự toán. Các chỉ tiêu giao thu cơ bản hoàn thành so với dự toán huyện giao, nhiều chỉ tiêu vượt như: Lệ phí trước bạ, thuế nhà đất, thuế tháng của các hộ sản xuất kinh doanh. Tổng chi ngân sách trong 5 năm là: 22,452 tỷ đồng, đạt 100% so với dự toán, các khoản chi cơ bản được thực hiện chi đúng, chi đủ, tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu cho việc chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản trên các lĩnh vực của địa phương.

2. Công tác thu hút đầu tư, huy động vốn cho đầu tư phát triển bước đầu được cải thiện

Hoạt động xây dựng phát triển, đã tạo ra khối lượng các công trình như: Xây dựng nhà Hiệu bộ Trường Tiểu học, đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, nhà văn hóa Làng; hệ thống đường điện, trạm điện, khu công sở, sân thể thao thôn, nhà ở khu dân cư, vốn đầu tư cho các công trình hơn này 100 tỷ đồng.

Thực hiện các chính sách, tạo điều kiện, phát huy dân chủ và truyền thống của địa phương trong nhiệm kỳ tổng các nguồn vốn đã thực hiện các công trình đạt hơn 41,4 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách cấp trên hơn 2,2 tỷ đồng, ngân sách xã hơn: 2,6 tỷ đồng, vốn lồng ghép các công trình dự án: 1,2 tỷ đồng; Vốn doanh nghiệp: 138,8 triệu đồng, vốn đầu tư của Nhân dân hơn 35,3 tỷ đồng hàng nghìn ngày công. Đặc biệt là nguồn vốn huy động từ con em thành đạt đầu tư vào một số hạng mục như cơ sở vật chất trường học, nhà văn hoá Làng, đường bê tông nông thôn, nội đồng giúp bộ mặt nông thôn có nhiều diện mạo mới.

3. Công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên môi trường được tăng cường

Công tác quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 và quy hoạch xây dựng nông thôn mới được thực hiện có tính khả thi phù hợp. Đo đạc tổng thể đất đai, xác định nguồn gốc đất để lập hồ sơ bản đồ địa chính. Điều tra thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tổng diện tích là 253.480m2. Dự án giải phóng mặt bằng để làm đường vành đai và đường 517 qua Đông Thịnh được thực hiện công khai dân chủ về quy hoạch, mức đền bù nên được các hộ dân trong dự án đồng thuận. Công tác vệ sinh môi trường, xã đã đầu tư thêm 7 xe thu gom rác thải và hợp đồng với HTX môi trường Tân Sơn về thu gom rác thải đã góp phần tạo cho đường làng, ngõ xóm sạch sẽ. Mỗi năm ước tính thu gom hơn 300 tấn rác thải vận chuyển ra ngoài địa phương để xử lý.

4. Văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được chăm lo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên

4.1. Giáo dục và đào tạo đã tập trung vào đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng: Cơ sở vật chất của 3 Trường được đảm bảo cho việc dạy và học. Trường Tiểu học được công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ I năm 2013. Trường Mầm non giữ vững trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn. Chất lượng giáo dục đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.

Trường THCS, học sinh khá 55 - 58%, học sinh giỏi hàng năm đạt trên 11 - 13%, tỷ lệ đậu vào Trường THPT hàng năm đạt 92 - 94%. Tỷ lệ phổ cập giáo dục THCS hàng năm đạt 93 - 94%. Năm 2014, trường THCS đạt trường tiên tiên cấp Tỉnh. Trường Tiểu học huy động trẻ vào lớp 1 đúng độ tuổi đạt 100%, học sinh giỏi 50 - 52%, học sinh khá 38 - 39%, học sinh lên lớp hàng năm đạt 97 - 98%. . Trường Mầm non huy động trẻ vào học hàng năm đạt 95 - 96%, học sinh khá giỏi 96 - 98%. Trẻ được ăn ở bán trú đạt 100%, được cân đo, khám sức khoẻ định kỳ.

Công tác khuyến học được địa phương duy trì và phát triển. Phong trào khuyến học được phát triển mạnh trong các gia đình, dòng họ và Làng văn hoá. Trong nhiệm kỳ đã tặng thưởng cho 123 học sinh đậu vào các trường: THPT Lam Sơn, Đại học, Cao đẳng hơn 130 triệu đồng.

Hoạt động của trung tâm HTCĐ trong nhiệm kỳ luôn phối kết hợp tốt với các đoàn thể, các ngành tổ chức tập huấn chuyển giao kiến thức KHKT, văn hóa-xã hội, tư vấn sức khỏe cộng đồng. Tạo điều kiện cho mọi tầng lớp Nhân dân được tiếp cận gần hơn với các lĩnh vực hoạt động trong đời sống văn hóa và tinh thần trong xã hội.

4.2. Văn hóa - thông tin - thể dục thể thao: có nhiều chuyển biến tích cực, thường xuyên nâng cao chất lượng tin bài, kịp thời tuyên truyền các chủ trương, của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước và các quy định của địa phương đến với cán bộ, đảng

viên và Nhân dân.

Phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao được khơi dậy và duy trì hoạt động. Sân thể thao của xã, của các làng văn hoá được xây dựng, tạo đà phát triển phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao rộng rãi trong nhân dân. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, gia đình văn hoá đạt từ 69% đầu nhiệm kỳ lên 81,2%; tiếp tục thực hiện toàn dân không sử dụng thuốc lá trong việc cưới, việc tang. Các hoạt động khuyến học, văn hóa - văn nghệ, thể dục thể được các làng văn hoá quan tâm. Các làng duy trì câu lạc bộ dưỡng sinh, câu lạc bộ văn nghệ và thể dục thể thao. Làng Đoàn Kết đã khôi phục trò Tiên cuội và múa Đèn.

4.3. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm đúng mức: việc khám chữa bệnh và phòng bệnh ban đầu, công tác phòng chống dịch bệnh cho nhân dân được duy trì, các chương trình quốc gia về y tế, như chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình VSMT, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ được tổ chức tốt từ xã xuống thôn; duy trì tốt 10 chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 6,6‰ đầu nhiệm kỳ giảm còn 5,3‰. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 15,9% đầu nhiệm kỳ, giảm còn 12,8%, chỉ tiêu đại hội là 10%. Công tác chỉ đạo xây dựng nhà vệ sinh, sử dụng nước hợp vệ sinh đều vượt so với chỉ tiêu đại hội 15%.

4.4. Công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội được quan tâm: trong 5 năm qua kết hợp với quỹ ủng hộ người nghèo của cấp trên và xã đã hỗ trợ trên 126 triệu đồng để làm mới 18 ngôi nhà và sửa chữa 4 ngôi nhà cho các đối tượng chính sách và hộ nghèo. Xác định và cấp giấy chứng nhận khuyết tật theo NĐ 28 cho 127 đối tượng. Toàn xã có hơn 400 đối tượng đang hưởng các chế độ chính sách. Trong đó, người hưởng chính sách người có công là: 202 đối tượng, người hưởng chính sách bảo trợ xã hội 198 đối tượng. Trong 5 năm, đã xuất khẩu được 153 lao động đi làm việc ở nước ngoài, nguồn thu nhập của các lao động ước trong 5 năm là 82, 620 tỷ đồng.

Trong nhiệm kỳ Đảng bộ đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả. Đầu nhiệm kỳ tỷ lệ hộ nghèo là 20,55%, cận nghèo 14,98%, đến nay tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,92%, cận nghèo còn 3,13%, vượt mục tiêu đại hội. Số hộ khá giàu được nâng lên, nhiều hộ gia đình đã trang bị đồ dùng, các thiết bị gia dụng đắt tiền; điều kiện ăn ở, học hành và nhu cầu hưởng thụ văn hoá được nâng lên.

5. Công tác QP - AN được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

5.1. Công tác Quốc phòng: luôn được coi trọng, chất lượng huấn luyện chính trị, quân sự chuyển biến rõ rệt, kết quả huấn luyện hàng năm đều đạt khá giỏi từ 75-78 %. Năm 2012 tham gia diễn tập chiến đấu trị an cụm 4 đạt loại khá. Nhiệm vụ tuyển quân hàng năm đạt chỉ tiêu Huyện giao. Từ năm 2010 địa phương đã tặng sổ tiết kiệm trị giá 500.000đ cho mỗi thanh niên hoàn thành nghĩa vụ. Trong 5 năm có 33 thanh niên nhập ngũ, không có trường hợp bỏ ngũ, không có bù - đổi. Chính sách hậu phương quân đội được thực hiện tốt.

5.2. An ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội: tiếp tục được giữ vững, trật tự ATXH chuyển biến tích cực, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc được duy trì. Thực hiện đề án 375 và chỉ thị số 10 của UBND Tỉnh, BCĐ xã đã chỉ đạo các thôn bầu ra 10 Tổ ANTT với 20 thành viên và 47 tổ ANXH với 94 thành viên, các tổ ANTT, ANXH hoạt động hiệu quả trong khu dân cư. Trong 5 năm công an xã đã giải quyết và phối hợp với cơ quan công an cấp trên tiến hành giải quyết xong 75 vụ việc.

6. Thực hiện chương trình về xây dựng nông thôn mới

Trong nhiệm kỳ tập trung hoàn thành sớm quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới; kịp thời kiện toàn Ban chỉ đạo, Ban quản lý, Ban phát triển thôn; bộ mặt nông thôn từng bước đổi mới, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Tập trung phát triển giao thông nông thôn, giao thông nội đồng; kết quả đã xây dựng đường giao thông nông thôn Đà Ninh và Đại Từ: 730m, giao thông nội đồng (thôn 3, 4, 5, 7): 1.390m. Trong một tháng toàn xã đã thực hiện hết 292,8 tấn xi nhà nước hỗ trợ làm được 6.911m đường giao thông nông thôn với số tiền Nhân dân đầu tư gần 900 triệu đồng. Xây dựng nhà văn hoá Làng Đại Từ hơn 700 triệu đồng, nhà văn hoá làng Đoàn kết gần 700 triệu đồng. Xây dựng thêm 2 trạm điện nâng tổng số trạm điện là 5 trạm/1.200 hộ dân. Làng Đoàn Kết đã vận động Nhân dân giải phóng hành lang đường liên huyện với chiều dài gần 1km với diện tích 1500m2. Xây mới nhà hiệu bộ Trường Tiểu học 1,5 tỷ đồng góp phần Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1.

Trong xây dựng nông thôn mới đã tập trung khơi dậy tính tự giác, tích cực, gương mẫu của đảng viên và nhân dân trong việc huy động vốn, góp công, góp của, tự giải phóng hành lang đường để hoàn thành các hạng mục trong xây dựng Nông thôn mới. Đến nay có thôn 10 được công nhận về đích nông thôn mới 14/14 tiêu chí, toàn xã đạt 9/19 tiêu chí. Tổng vốn huy động trong công tác xây dựng nông thôn mới của nhiệm kỳ là 65,8 tỷ đồng.

II- CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được tăng cường, có một số chuyển biến tích cực

1.1. Công tác tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; công tác giáo dục chính trị tư tưởng được quan tâm kịp thời đúng mức:

Thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Triển khai, học tập, quán triệt kịp thời các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, gắn với xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết phù hợp với tình hình của địa phương, tạo sự đồng thuận trong nhận thức và hành động. Thường xuyên nắm chắc những diễn biến về tư tưởng, tâm trạng xã hội để kịp thời có những biện pháp định hướng tư tưởng có hiệu quả trong các nhiệm vụ chính trị.

1.2. Công tác tổ chức, cán bộ được tập trung chỉ đạo và đạt nhiều kết quả: Đã tập chung nhiều biện pháp chỉ đạo, khắc phục khó khăn, hạn chế, không ngừng phát triển đi lên. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/HU của BTV Huyện uỷ "về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ". Đánh giá xếp loại hàng năm được thực hiện đúng nguyên tắc, qua đó cho thấy: Chi bộ đạt TSVM chiếm 45% tăng so với đầu nhiệm kỳ 5%. Chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 55% tăng so với đầu nhiệm kỳ 10%. Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ bình quân 5 năm chiếm 75%, đảng viên xuất sắc hàng năm đạt 6-8%. Công tác thi đua khen thưởng được Đảng ủy quan tâm, trong nhiệm kỳ đã trao huy hiệu đảng cho 47 đồng chí. Thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách cán bộ và công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã góp phần củng cố tổ chức Đảng vững mạnh.

Trong nhiệm kỳ đã bồi dưỡng 24 quần chúng ưu tú đi học đối tượng Đảng, đã kết nạp 36 đ/c, tăng 7 đồng chí so với cùng kỳ, vượt chỉ tiêu Đại hội 6 đồng chí. Nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ 303 đồng chí.

Tập trung lãnh đạo Đại hội nhiệm kỳ 2011-2016 của Hội Phụ nữ, nhiệm kỳ 2012-2017 của Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông Dân và Công đoàn xã, Đại hội MTTQ nhiệm kỳ 2013-2018; Đại hội chi bộ (nhiệm kỳ 2012-2015, 2015-2017) thành công tốt đẹp.

Trong nhiệm kỳ đã cử 18 đ/c đi đào tạo, trong đó: học Đại học 8 đồng chí, Trung cấp Công an 2 đồng chí, Trung cấp Quân sự 1 đồng chí, Trung cấp Lý luận chính trị 7 đồng chí. Góp phần cho đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ: THPT là 20/20 đồng chí, Đại học 7 đồng chí, Cao đẳng 1 đồng chí, Trung cấp quản lý nhà nước 12 đồng chí, Trung cấp lý luận chính trị 11 đồng chí, cơ bản đội ngũ cán bộ, công chức đạt chuẩn góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo.

1.3. Công tác kiểm tra, giám sát: luôn được chú trọng. Từ đầu nhiệm kỳ đã xây dựng chương trình công tác kiểm tra, giám sát. Phân công các đồng chí Đảng uỷ viên, Ủy viên UBKT phụ trách hàng tháng dự họp với chi bộ, thông qua đó nhằm thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở chi bộ.

Trong nhiệm kỳ Đảng ủy đã kiểm tra 3 cuộc về chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở 4 chi bộ, 3 cuộc giám sát cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ bộ thuộc diện quản lý về việc thực hiện chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và đạo đức, lối sống. UBKT Đảng ủy đã kiểm tra 5 cuộc về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng ở 4 chi bộ. Giám sát 3 cuộc về việc lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát ở chi bộ. UBKT đã tham mưu giúp Đảng ủy ban hàng quy trình tiến hành kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của chi ủy, chi bộ.

Công tác kiểm tra, giám sát đã giúp tổ chức đảng và đảng viên kịp thời sửa chữa những sai sót nâng cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm, có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa sai phạm, giữ vững kỷ cương, tăng cường sức mạnh, sức chiến đấu của Đảng. Trong nhiệm kỳ không có đảng viên, tổ chức đảng vi phạm phải xử lý kỷ luật.

1.4. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí: Được quan tâm đúng mức, đã tập trung chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí thường xuyên; Đảng ủy, UBND đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nhiều giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí được triển khai thực hiện đồng bộ có kết quả, cán bộ lãnh đạo quản lý thực hiện công tác kê khai tài sản minh bạch, công tác tuyên truyền giáo dục được tăng cường, kiểm tra giám sát chặt chẽ, từ đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

1.5. Phương thức lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tiếp tục được đổi mới: Ban chấp hành Đảng bộ đã ban hành quy chế làm việc toàn khóa; điều hành hoạt động nghiêm túc theo quy chế, phát huy dân chủ, đoàn kết thống nhất, thực hiện tốt chế độ tư phê bình và phê bình, phát huy vai trò tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tính tiền phong gương mẫu và nêu gương của người đứng đầu. Ban thường vụ duy trì chế độ giao ban với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, MTTQ và các đoàn thể; chất lượng nội dung hội nghị Ban chấp hành từng bước được đổi mới, hàng tháng đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ bằng văn bản; tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt của các chi bộ, thực hiện việc sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, duy trì công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh.

Chỉ đạo thường xuyên MTTQ và các đoàn thể tập trung tuyên truyền đoàn viên, hội viên và Nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; công tác phối hợp giữa UBND, MTTQ và các đoàn thể luôn duy trì, phối hợp chặt chẽ và mang lại hiệu quả thiết thực.

1.6. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và chỉ thị 03- CT/TW của Bộ chính trị về Tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh” đạt được kết quả đáng mừng: Thực hiện NQTW 4 (khoá XI). Trên cơ sở 3 vấn đề yêu cầu của nghị quyết, Đảng bộ đã nghiêm túc quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện. Qua kiểm điểm Đảng ủy đã xác định có 3 nội dung yếu kém, khuyết điểm cần xác minh làm rõ và 7 nội dung cần khắc phục trong năm 2013, 8 nội dung cần làm trong các năm tiếp theo. Đảng ủy đã gợi ý kiểm điểm đối với 4 tập thể và 7 cá nhân về tồn tại kéo dài. Từ kết quả sau kiểm điểm các tập thể cá nhân đã có sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên; đã tập trung làm tốt công tác đánh giá, bố trí, sắp xếp và thực hiện quy hoạch cán bộ; tập thể và cá nhân cán bộ đã xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm từng đồng chí phụ trách. Sau kiểm điểm, tình đồng chí, đồng nghiệp gắn bó chặt chẽ hơn, hiệu quả công tác được nâng cao; đã hạn chế những biểu hiện khuyết điểm mới.

Tiếp tục thực hiện các hoạt động "Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 03. Đa số cán bộ, đảng viên lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành pháp luật. Luôn tự rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đa số các đồng chí cán bộ, đảng viên là tấm gương trong gia đình, chăm lo XD hạnh phúc gia đình và phát triển kinh tế, XD gia đình văn hoá, làng văn hoá, giữ vững tình làng nghĩa xóm, đoàn kết trong khu dân cư được Nhân dân tin yêu.

2. Công tác quản lý nhà nước, hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền được nâng lên rõ rệt

2.1. Hoạt động của HĐND ngày càng đổi mới theo hướng tích cực, hiệu quả: HĐND xã nhiệm kỳ 2011-2016 được cử tri trong xã bầu 25 đại biểu. Tại kỳ họp thứ 1 thứ 2 và thứ 8 đã tiến hành bầu và bầu bổ sung các chức danh do HĐND bầu. Thường trực HĐND thường xuyên phối hợp với MTTQ, UBND để xây dựng kế hoạch tiếp xúc cử tri phục vụ các kỳ họp, qua tiếp xúc cử tri Thường trực HĐND cùng các tổ đại biểu nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của cử tri để phản ánh đến kỳ họp. Trước mỗi kỳ họp Thường trực HĐND tiến hành thẩm tra các báo cáo và các tờ trình của UBND đảm bảo đúng quy định kết hợp với việc phát huy chức năng giám sát tại kỳ họp của các đại biểu nên chất lượng các kỳ họp được nâng lên rõ rệt. Trong nhiệm kỳ đã tổ chức 11 kỳ họp và ban hành 45 nghị quyết về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương. Thường trực HĐND tăng cường hoạt động giám sát thường xuyên, tiến hành 9 cuộc giám sát chuyên đề về các lĩnh vực: quản lý nhà nước về đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, về xây dựng XD cơ bản, thực hiện các khoản thu xã hội hóa giáo dục của 3 trường, về thực hiện cải cách thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thông và việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Qua giám sát nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn tại, phát huy những mặt tích cực trong quản lý và điều hành các nhiệm vụ của địa phương.

2.2. Hoạt động của UBND đã tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành: UBND đã tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đã đạt được nhiều kết quả tích cực; các chủ trương, nghị quyết của Đảng được cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo. Công tác cải cách hành chính, tác phong lề lối làm việc được đổi mới. Tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trong tâm, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, cơ cấu thời vụ, cơ cấu giống, phòng chống bão lụtchống hạn. Quá trình triển khai có các biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện. Tích cực chỉ đạo các thôn tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước và quan tâm công tác sản xuất, phổ biến các tiến bộ KHKT đến với nhân dân. Phối hợp và tổ chức chỉ đạo bầu cử trưởng thôn nhiệm kỳ 2012 - 2015 và 2015 - 2017 thành công tốt đẹp.

3. Công tác Dân vận phát huy hiệu quả; hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội ngày càng phát triển

3.1. Công tác dân vận: Được quan tâm và hoạt động có nhiều chuyển biến tích cực, đã xây dựng quy chế công tác Dân vận. Thường xuyên tuyên truyền và tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng kịp thời. Tăng cường xây dựng các điển hình “dân vận khéo”. Tổ chức thực hiện đề án Đề án về "Tăng cường công tác Dân vận trong xây dựng nông thôn mới" trên địa bàn. Đẩy mạnh công tác dân vận của Chính quyền, phát huy dân chủ tạo sự đồng thuận trong nhân dân, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

3.2. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân: Đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đổi mới nội dung phương thức hoạt động, các hình thức thu hút tập hợp đoàn viên hội viên ngày càng đa dạng, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng phản ảnh với cấp ủy, chính quyền. Vận động đoàn viên, hội viên tích cực tham gia thực hiện đường lối chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; đẩy mạnh các phong trào thi đua trong các tổ chức đoàn thể được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng như: phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo trong đoàn viên công đoàn. Phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, mô hình tổ nhóm tiết kiệm, mô hình 5 không, 3 sạch. Hội Nông dân với phong trào “Sản xuất kinh doanh giỏi”, Hội Cựu Chiến binh với phong trào “Phối hợp phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội”; Đoàn xã với phong trào “Thanh niên tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tỉ lệ tập hợp thu hút hội viên, đoàn viên được nâng lên. Hội PN là 87%, Đoàn thanh niên 68%, Hội Nông dân 58%, Hội CCB 98,8%. Hoạt động của mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân liên tục đạt tiên tiến trở lên. Tổ chức thực hiện QĐ 217, 218-QĐ/TWvề việc giám sát và phản biện xã hội...”; về tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền”.

Các tổ chức xã hội hoạt động đồng bộ theo yêu cầu của tổ chức, hàng năm được phân bổ kinh phí hoạt động; có nhiều nội dung hoạt động phong phú, thiết thực đã thu hút hội viên tham gia, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, động viên kịp thời hội viên và nhân dân tích cực hăng say lao động sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên và nhân dân. Tích cực vận động hội viên thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Đạt được những kết quả trên là do các nguyên nhân: Trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, Đảng uỷ, Chính quyền đã xác định gắn kết chặt chẽ và đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. Rèn luyện tác phong lề lối làm việc có kế hoạch, giải pháp và phân công cụ thể, sơ kết, tổng kết, khen thưởng, phê bình đúng mức. Đảng uỷ luôn đoàn kết, thống nhất, giữ vững nguyên tắc tập chung dân chủ, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái, mất dân chủ. Nhiệm kỳ qua địa phương đã đạt được nhiều kết quả đáng mừng. Đó là được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện. Sự tập chung lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng của Đảng ủy, quản lý điều hành tốt của Chính quyền, tích cực tuyên truyền vận động của MTTQ, các đoàn thể, sự nổ lực phấn đấu của các chi bộ, sự cố gắng vươn lên của cán bộ, Nhân dân đã tạo điều kiện về tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, văn hóa - xã hội phát triển, an ninh - quốc phòng được đảm bảo.

B- NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM, NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, khuyết điểm

1- Về lĩnh vực phát triển kinh tế, các giải pháp và các chương trình hành động chưa có tính đột phá, ứng dụng KHKT, khoa học công nghệ vào sản xuất chậm. Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp dịch vụ còn mang tính tự phát, du nhập ngành nghề mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng vật nuôi gặp nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế từ trang trại, gia trại chưa cao. Công tác thực hiện xây dựng NTM chậm.

2- Công tác văn hoá chưa có chiều sâu, phòng trào hoạt động bề nổi phát triển chậm, chất lượng xây dựng làng văn hoá chưa đạt kế hoạch đề ra. Hoạt động của các làng văn hóa chưa được chú trọng.

3- Tình hình TNXH vẫn còn phức tạp, nhất là cờ bạc, lô đề chưa có biện pháp ngăn chặn triệt để. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm hiệu quả thấp.

4- Hoạt động của chính quyền về quản lý đất đai, TNXH xử lý vi phạm chưa kịp thời, thiếu kiên quyết; số lượng tiếp xúc cử tri chưa cao, hoạt động của một số đại biểu HĐND có thời điểm chưa rõ nét. Kỳ họp thứ nhất của HĐND bầu chức danh Phó chủ tịch HĐND chưa đúng yêu cầu đề ra.

5- Công tác xây dựng Đảng chưa chú trọng đổi mới nội dung sinh hoạt, công tác quản lý đảng viên đi làm ăn xa chưa tốt, việc phân công nhiệm vụ cho đảng viên chưa cụ thể. Đánh giá, phân loại tổ chức và đảng viên còn nể nang. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát có mặt chưa thường xuyên. Việc khắc phục hạn chế của tổ chức và cá nhân theo tinh thần NQTW 4 chưa kịp thời.

6 - Hoạt động của MTTQ và đoàn thể chưa đều, nội dung, hình thức sinh hoạt còn nghèo, duy trì chế độ sinh hoạt chưa thường xuyên, tính hấp dẫn chưa cao, tỷ lệ

hội viên, đoàn viên tham gia sinh hoạt thấp.

7- Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa sâu sát, thiếu biện pháp phong phú. Việc đưa nội dung giáo dục đạo đức, lối sống trở thành nội dung sinh hoạt hàng tháng, kiểm điểm hàng năm, kết quả việc làm theo còn hạn chế.

2. Nguyên nhân

- Năng lực lãnh đạo của Đảng uỷ, điều hành của Chính quyền có mặt còn hạn chế. Tư duy trong lãnh đạo nhất là tư duy kinh tế chậm đổi mới. Công tác chỉ đạo, điều hành có thời điểm chưa sâu sát, thiếu năng động.

- Nguồn thu ngân sách hạn hẹp, dẫn đến phong trào XD nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, tạo việc làm cho nông dân chậm phát triển.

- Trong Đảng bộ vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên tư duy chậm đổi mới, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, đấu tranh phê bình, tự phê bình còn yếu.

- Năng lực tham mưu của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế, thiếu tinh thần trách nhiệm, hiệu quả công việc thấp, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương.

C- BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Một là: Thường xuyên duy trì và củng cố, xây dựng được sự nhất trí cao trong Đảng bộ, tạo lòng tin của Nhân dân đối với Đảng. Có chủ trương, biện pháp sát đúng, có bước đi thích hợp trong chỉ đạo, điều hành, tập chung chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, những khâu then chốt, phân công trách nhiệm cụ thể giải quyết dứt điểm những vấn đề đã đặt ra.

Hai là: Làm tốt công tác tuyên truyền tạo ra sự thống nhất trong nhận thức và hành động, đồng thời tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Thực hiện nghiêm pháp lệnh dân chủ trong nhân dân.

Ba là: Quan tâm và bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện nhằm năng cao trình độ năng lực. Bảo đảm cho đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực để lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Thường xuyên nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng. Kiểm điểm nghiêm túc những cán bộ, đảng viên không đủ năng lực và phẩm chất theo yêu cầu nhiệm vụ.